Báo cáo thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam tháng 4 2019

bigmoneyvietnam - Ngày : 14/05/2019 09:20 - Lượt xem: 29

Thị trường tiền tệ

USD tăng giá, dầu thiết lập đỉnh giá 6 tháng

Chỉ số DXY duy trì quanh mức 97 và tăng vọt lên mức 98.2 vào ngày 25/4/2019 – mức cao kỷ lục trong vòng gần 2 năm trở lại đây. Nguyên nhân là do trong khi chỉ số PMI tháng 4 của Châu Âu vẫn ở mức thấp nhất từ 2014 đến nay (47.8) thì kinh tế Mỹ lại ghi nhận những kết quả đầy bất ngờ với chỉ số bán lẻ tháng 3 tăng 1.6% MoM, cao hơn hẳn mức kỳ vọng 0.9% của thị trường, số đơn trợ cấp thất nghiệp giảm về mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua và đặc biệt là tăng trưởng GDP quý 1/2019 của Mỹ vượt xa dự báo lên mức 3.2% YoY, mức cao nhất so với cùng kỳ của 4 năm gần đây bất chấp 35 ngày đóng cửa của Chính phủ.

Tuy nhiên, sức nóng của đồng USD đã giảm bớt vào những ngày cuối cùng của tháng khi những thông tin tăng trưởng GDP quý 1/2019 của Châu Âu đạt 0.4% QoQ và tỷ lệ thất nghiệp tháng 3 ở mức thấp nhất kể từ 2008 (7.7%) đã hỗ trợ EUR hồi phục. Kết thúc tháng, chỉ số DXY ở mức 97.48, EUR và GBP gần như không đổi so với cuối tháng 3, JPY và CNY mất giá lần lượt 0.5% và 0.34% so với USD.

Tăng trưởng GDP quý 1/2019 của cả Mỹ, Châu Âu và Trung Quốc đều cao hơn kỳ vọng, triển vọng về một thỏa thuận Mỹ – Trung được ký kết vào cuối tháng 5 đang ngày càng khả thi khiến cho cái nhìn về nền kinh tế toàn cầu sáng sủa hơn đồng nghĩa với cầu dầu thô có khả năng tăng. Trong khi đó, nguồn cung dầu toàn cầu lại đang bị thắt chặt từ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC và Nga, lệnh trừng phạt của Mỹ với Iran và Venezuela. Giá dầu đã tăng liên tục và lập đỉnh 6 tháng trước khi giảm nhẹ về 72 USD/thùng với dầu Brent và 63.9 USD/thùng với dầu WTI, tăng lần lượt 7.7% và 6.5% trong tháng 4. Tính từ đầu năm 2019 đến nay, giá dầu đã tăng khoảng 39%.

Lãi suất ổn định trên thị trường 1 nhưng bất ngờ sụt giảm mạnh trên liên ngân hàng trong tuần cuối tháng 4

Trong tháng qua, kênh OMO chỉ phát sinh 2 giao dịch nhỏ vào đầu tháng và cuối tháng, tín phiếu trở thành kênh hoạt động chính trên thị trường mở. NHNN đã hút ròng 46.427 tỷ đồng trong cả tháng 4 trong đó tập trung chủ yếu vào tuần cuối cùng của tháng (44.693 tỷ đồng) khi thanh khoản hệ thống đột ngột chuyển sang dư thừa. Lãi suất kỳ hạn qua đêm trên liên ngân hàng giảm mạnh từ mức 4.0-4.4%/năm 3 tuần trước đó về mức đáy mới là 2.98%/năm vào ngày giao dịch cuối tháng. Mức lãi suất này thấp hơn lãi suất tín phiếu (3%/năm) và là mức thấp nhất trong hơn 6 tháng trở lại đây.

Theo chúng tôi, diễn biến này chỉ mang tính chất ngắn hạn vì quý 2 vẫn là quý cao điểm về giải ngân vốn đầu tư công và giải ngân tín dụng của các ngân hàng, bên cạnh đó nguồn USD các NHTM có thể bán cho NHNN để hỗ trợ thanh khoản tiền đồng cũng không còn nhiều, lãi suất trên liên ngân hàng sẽ nhanh chóng trở về mức trên 3.5%-4.0%/năm

Trên thị trường 1, ngoại trừ một số ngân hàng điều chỉnh giảm 0.5-1%/năm với lãi suất huy động kỳ hạn từ 1 đến dưới 3 tháng, lãi suất huy động từ tổ chức kinh tế vẫn duy trì ở mức 4.3-5.5%/năm với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng, 5.5-7.5% với kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng và 6.4-8%/năm với kỳ hạn 12,13 tháng. Mức lãi suất áp dụng với khách hàng cá nhân thường cao hơn từ 20-70bps với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, cá biệt một số ngân hàng áp dụng các chương trình ngắn hạn chào mừng kỳ lễ 30/4, 1/5 với mức lãi suất kỳ hạn 13 tháng lên tới 8.5%/năm.

Nhiều yếu tố tác động khiến tỷ giá USD/VND nhích tăng trong tháng 4

Tỷ giá USD/VND sau một thời gian dài đi ngang đã tăng 70đ/USD trên ngân hàng lên 23.230/23.330 và 115đ/USD lên 23.325/23.340 ở thị trường tự do chỉ trong 1 tuần giao dịch cuối cùng của 4. Đây là đợt biến động mạnh nhất kể từ đầu năm đến nay. Tỷ giá trung tâm cũng tiếp tục được nâng thêm 30 đ/USD lên mức 23.028đ/USD.

Một số yếu tố được cho là nguyên nhân tác động đến tỷ giá gồm: (i) chênh lệch lãi suất VND-USD trên liên ngân hàng giảm mạnh từ 1.5-1.8%/năm xuống 0.4-0.7%/năm; (ii) chỉ số Dollar Index tăng mạnh lên trên mức 98; và (iii) cung – cầu USD trong nước bớt thuận lợi hơn sau khi đã các tổ chức tín dụng đã bán tới 8.35 tỷ USD về NHNN từ đầu năm 2019 và Việt Nam nhập siêu 750 triệu USD trong nửa đầu tháng 4/2019. Diễn biến thị trường tương đối bất ngờ trong bối cảnh hầu hết các thành viên đều đang tự tin với sự ổn định của tỷ giá nên đã có tác động tương đối lớn đến tâm lý, đặc biệt là ở thị trường tự do, đẩy tỷ giá trên ngân hàng và thị trường tự do tăng lần lượt là 0.3% và 0.5% chỉ trong tuần cuối tháng 4.

Nếu như không có việc Donald Trump cảnh báo tăng thuế với hàng hóa Trung Quốc vào đầu tháng 5, chúng tôi nghiêng nhiều về khả năng tỷ giá sẽ ổn định trở lại vì (1) diễn biến lãi suất VND trên liên ngân hàng là ngắn hạn, chênh lệch lãi suất VND-USD sẽ khôi phục về mức 1-1.5%; (2) dự trữ ngoại hối gia tăng đáng kể, củng cố nguồn lực để NHNN bình ổn thị trường nếu có biến động mạnh; (3) triển vọng gia tăng nguồn vốn FII từ những thương vụ bán vốn lớn; (4) quan điểm của FED trong phiên họp đầu tháng 5 vẫn là giữ nguyên lãi suất trong năm 2019, lạm phát lõi PCE tháng 3 của Mỹ chỉ là 1.6% – thấp hơn so với lạm phát mục tiêu nên USD chưa có nhiều lý do đủ mạnh để tiếp tục tăng.

Khi chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đứng trước nguy cơ leo thang, vấn đề kiểm soát tỷ giá sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tố bên ngoài, đặc biệt là diễn biến đồng CNY. Chỉ tính trong vòng 4 ngày từ 6/5 đến 9/5/2019, đồng CNY đã mất giá khoảng 1.3%, xấp xỉ mức độ mất giá đã từng xảy ra vào giữa tháng 6/2018. Tuy nhiên, khác với năm ngoái, các thành viên thị trường và phía Trung Quốc đều đã có sự chuẩn bị từ trước. Tỷ giá USDCNY dù đã tăng lên 6.82 nhưng vẫn còn thấp hơn mức đỉnh của năm 2018 là 6.97. NHTW Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ can thiệp để giữ đồng CNY như đã làm trong năm 2018. Sự mất giá của CNY ảnh hưởng đến VND phần nhiều là ở khía cạnh tâm lý nên phía Việt nam vẫn còn nhiều công cụ để ổn định tỷ giá. Đồng VND vì vậy nếu có biến động vẫn sẽ nằm trong tầm kiểm soát.

 

Thị trường trái phiếu

Lợi tức TPCP đi ngang trên sơ cấp và tăng nhẹ trên thứ cấp

Tỷ lệ trúng thầu/gọi thầu tháng 4 là 68%, cải thiện so với mức 52% của tháng trước chủ yếu là do KBNN giảm mạnh khối lượng gọi thầu xuống 18,5 nghìn tỷ trong tháng 4 (-33% MoM). Có 12.576 tỷ đồng TPCP được phát hành (-12% MoM) ở các kỳ hạn 7 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm và 30 năm với lãi suất trúng thầu gần như không đổi, lần lượt là 4.05%; 4.72%; 5.06%; 5.69% và 5.85%/năm. Trong đó, 2 kỳ hạn được phát hành nhiều nhất vẫn là 10 năm và 15 năm với khối lượng trúng thầu lần lượt là 4.940 tỷ đồng và 6.400 tỷ đồng, chiếm tổng cộng      90% lượng trúng thầu trong tháng.

Tổng lượng phát hành 4 tháng 2019 là hơn 82 nghìn tỷ đồng, +76.6% YoY nhưng nếu đối trừ với lượng TPCP đáo hạn thì lượng phát hành ròng 4 tháng 2019 chỉ là 14.297 tỷ đồng, -40% YoY. Kho bạc Nhà nước đã công bố kế hoạch phát hành 80 nghìn tỷ đồng trong Q2.2019, tăng 15% so với lượng phát hành trong Q1.2019 và tương đương 30.8% kế hoạch phát hành cả năm 2019. Lượng phát hành tháng 4 chỉ tương đương 15.7% kế hoạch quý nên nhiều khả năng KBNN sẽ đẩy mạnh gọi thầu trong tháng 5, 6. Trong bối cảnh giá xăng, giá điện tăng khá mạnh làm gia tăng áp lực lạm phát, NHNN sẽ điều tiết chặt chẽ cung tiền, hiện tượng dư thừa thanh khoản hiện tại khó có thể kéo dài. Thêm vào đó, giải ngân vốn đầu tư công cũng đã bước vào thời kỳ cao điểm nên lãi suất trúng thầu có thể sẽ nhích tăng trong giai đoạn tới.

Trên thị trường thứ cấp, lợi tức trái phiếu tiếp tục tăng nhưng mức tăng thấp hơn tháng 3, tăng nhiều nhất là kỳ hạn 2 năm với mức tăng 15bps lên 3.43%/năm, các kỳ hạn 1,3,4,5,7 năm tăng từ 2-10bps, kỳ hạn 15 năm không đổi, riêng kỳ hạn 10 năm giảm 5bps. Mức lợi tức cụ thế các kỳ hạn 3 năm, 5 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt ở mức 3.53%/năm, 3.86%/năm, 4.73%/năm và 5.08%/năm.

Tổng giá trị giao dịch tháng 4/2019 là 175.7 nghìn tỷ đồng, giảm 12% MoM do thanh khoản tháng 3 tăng mạnh khi lãi suất trái phiếu đạt đáy. Trong tháng, khối ngoại mua bán đan xen, tổng giá trị bán là 3.259 tỷ đồng, không tăng nhiều so với các tháng trước nhưng giá trị mua giảm mạnh về mức 3.307 tỷ đồng so với mức hơn 4-6 nghìn tỷ đồng/tháng của 3 tháng đầu năm. Tính chung lại, NĐTNN mua ròng 48 tỷ đồng trong cả tháng, ghi nhận 6 tháng mua ròng liên tiếp của khối này.

 

Thị trường chứng khoán

Thị trường bước sang tháng 4 vẫn thiếu động lực tăng trưởng về điểm số trong bối cảnh khối ngoại thu hẹp giao dịch và thanh khoản thị trường tiếp tục hạn chế

Khối ngoại giảm quy mô giao dịch. Trong Q1/2019, GT mua vào và bán ra bình quân của NĐTNN lần lượt đạt 16.52 và 14.9 nghìn tỷ đồng với quy mô cải thiện dần từ tháng 1 đến tháng 3. Tuy nhiên, xu hướng này đã đảo chiều trong tháng 4 khi GT mua và GT bán giảm 51.6% MoM và 53.24% MoM, lần lượt về mức 10.14 và 9.23 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, mức giảm mạnh hơn của chiều bán giúp thị trường ghi nhận thêm 1 tháng mua ròng của khối ngoại với giá trị đạt trên 1000 tỷ đồng.

Tính riêng trên HOSE, khối ngoại mua ròng 660 tỷ đồng (-32.7% MoM) trong đó kênh khớp lệnh chiếm 88.5% cơ cấu giao dịch. MSN, GAS, VHM dẫn đầu nhóm mua ròng với giá trị tương ứng là 452.1, 319.2 và 244 tỷ đồng.

Dòng vốn ETF cũng bắt đầu chững lại. Thực tế, các quỹ ETF vẫn duy trì mua ròng 364.3 tỷ đồng, đồng nghĩa với tháng thứ năm mua ròng liên tiếp của nhóm này, trong đó VFM VN30 đóng góp tỷ trọng 35%.

Tuy nhiên, kể từ tháng 2, quy mô mua ròng giảm dần, trong đó tháng 4 giảm mạnh 72.2% MoM. Đây là diễn biến mang tính chất mùa vụ, sau quá trình giải ngân tích cực vào giai đoạn đầu năm, các quỹ ETF thường hạn chế giao dịch trong giai đoạn kế tiếp. Lấy ví dụ, năm 2018, giá trị mua ròng 2 tháng đầu năm qua kênh ETF đạt 3.45 nghìn tỷ đồng, trước khi nhóm này bán ròng 935 tỷ đồng trong tháng 3 và mua ròng nhẹ trong tháng sau đó.

Thanh khoản thị trường tiếp tục hạn chế. GTGD thị trường cơ sở đạt 4.27 nghìn tỷ đồng, thấp hơn đáng kể so với mức 5.85 nghìn tỷ đồng trong tháng 3. Tính riêng sàn HOSE, thanh khoản giảm 26.6% MoM về mức 3.58 nghìn tỷ đồng. GTGD của thị trường chịu ảnh hưởng từ hoạt động thu hẹp giao dịch của NĐTNN. Tỷ trọng của khối ngoại tính trên tổng GTGD chỉ đạt 11.83%, thấp nhất kể từ tháng 1/2018

Chiều ngược lại, thị trường lại được nâng đỡ bởi diễn biến tích cực từ chứng khoán Hoa Kỳ. 

S&P 500 lập đỉnh lịch sử trong phiên ngày 30/04, tương ứng với mức tăng 3.93% MoM. GDP Q1/2019 của Hoa Kỳ tăng vượt dự báo, tỷ lệ thất nghiệp rơi về mức thấp nhất 50 năm là những yếu tố hỗ trợ quan trọng cho thị trường.

Tháng 4 chứng kiến những tín hiệu khả quan về đàm phán thương mại Mỹ – Trung khi hai quốc gia tổ chức hai cuộc hội kiến, lần lượt diễn ra tại Washington và Bắc Kinh, mang theo những kỳ vọng về một thỏa thuận thương mại mới. Mặc dù vậy căng thẳng đã quay trở lại vào những ngày đầu tháng 5 khi tổng thống Hoa Kỳ DonaldTrump cảnh bảo nâng thuế suất tự vệ đối với Trung Quốc.

Bên cạnh đó, tháng 4 là cao điểm công bố kết quả kinh doanh quý 1/2019 của các công ty niêm yết tạo ra điểm tựa cho một vài cổ phiếu vốn hóa trụ cột

Giá cổ phiếu diễn biến bám sát với triển vọng lợi nhuận, theo cả chiều hướng tích cực và ngược lại.

Theo thống kê đến ngày 06/05, có tổng cộng 954 công ty niêm yết công bố báo cáo tài chính quý 1/2019. Tổng LNST toàn thị trường trong quý đầu năm đạt 65.17 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 3.4% YoY, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 21.6% trong Q1/2018. Phân loại theo tăng trưởng lợi nhuận, có 81% số doanh nghiệp báo lãi, trong đó một nửa công bố tăng lãi so với cùng kỳ.

Lợi nhuận của nhóm HNX Index và Upcom Index tăng mạnh 20.24% và 20.1% YoY tuy nhiên rổ chỉ số có tỷ trọng lợi nhuận lớn nhất là VN Index chỉ tăng nhẹ 0.07%, qua đó giải thích cho mức tăng thấp của toàn thị trường.

30 doanh nghiệp thuộc rổ VN30 đã công bố BCTC quý 1/2019, cụ thể lợi nhuận của nhóm này giảm 1.32% YoY, đảo chiều sau khi tăng trưởng trên 20% trong quý 1 của 3 năm gần nhất.

Các công ty ghi nhận lợi nhuận sụt giảm so với cùng kỳ như VHM, CII, CTD, DPM, VPB đều chứng kiến sự đi xuống của giá cổ phiếu. Doanh nghiệp có lợi nhuận tăng trưởng nhưng chậm lại so với mức tăng của Q1/2018 cũng không được thị trường đánh giá cao như trường hợp của HDB, TCB hoặc chỉ tăng nhẹ như MBB, MWG. Một số cổ phiếu như GAS, FPT, PNJ thì có giá tăng trưởng tốt thuận theo tăng trưởng của KQKD của quý 1.

Với các yếu tố tác động trái chiều, hai chỉ số trên sàn HOSE vận động giằng co và thay đổi không đáng kể về mặt điểm số nếu so sánh với thời điểm cuối quý 1/2019, trong đó:

  • VN Index đóng cửa tại mức 979.64 điểm so với 980.76 điểm ghi nhận vào ngày 29/03/2019. VNM, VIC, SAB, TCB, BVH và CTG ảnh hưởng tới chiều giảm của chỉ số. VNM điều chỉnh 3.71% MoM do mức hồi phục yếu của lợi nhuận sau thuế quý 1 (4.3% YoY) trong bối cảnh giá sữa nguyên liệu tăng lên, ảnh hưởng tới biên lợi nhuận. Trong khi đó, GAS tăng thêm 14.9% MoM, đóng góp chính cho chiều tăng của chỉ số. GAS giao dịch khởi sắc nhờ giá dầu Brent tăng thêm 6.4% MoM cùng với thông tin thay đổi cơ chế giá khí cung cấp cho nhà máy điện.
  • VN30 Index kém thuận lợi hơn so với VN Index khi chỉ số điều chỉnh 1% về mức 890.55 điểm do ảnh hưởng từ tỷ trọng vốn hóa điều chỉnh theo free float của GAS. Do tỷ lệ free float thấp (5%) nên tỷ trọng của GAS chỉ đạt 1.7% trong nhóm VN30. Theo ước tính, GAS tăng 1 nghìn đồng sẽ đóng góp thêm 0.63 điểm tăng cho VN Index nhưng chỉ đóng góp 0.14 điểm cho VN30 Index.

(Nguồn: SSI)

Báo cáo đầy đủ có  Tại đây  

Xem Báo cáo thị trường tài chính tiền tệ Việt nam tháng 02 2019 – Khởi đầu thuận lợi cho năm mới


Hãy liên hệ ngay với Big Money để được trao đổi cụ thể hơn nhé.

Điện thoại: Quang Vinh – 0854.133.828 (Zalo) hoặc Phương Thúy – 0965.520.312 (Zalo)

Email: bigmoneyvietnam@gmail.com

Website: Bigmoneyvietnam.com

Tin Liên Quan

[contact-form-7 404 "Not Found"]